Bỏ qua nội dung
01/03/2013 / Nhang Sạch Thiên Hương

TÌM HIỂU VỀ TRẦM HƯƠNG

Trầm-hương

Trầm-hương

Chào bạn,

Việt Nam có một số loài thực vật vô cùng quý hiếm.  Bên cạnh nhóm cây dược liệu, nước ta còn có một nhóm cây tinh dầu mà tinh dầu của chúng có thể làm được dược phẩm, hương liệu và thực phẩm. Trong số đó, Trầm Hương là phần gỗ thơm ở cây dó mọc trên dãy Trường Sơn từ Quảng Bình trở vào. Đây là hương liệu và dược liệu quý hiếm.

1. Trầm Hương là gì?

Trầm Hương là phần gỗ của cây Dó nhiểm dầu.

Một số lòai Dó, trong quá trình sinh trưởng, do những tác động nào đó, gây ra những “tổn thương/nhiễm bệnh”, lâu ngày cây tích tụ một chất dạng nhựa (dầu), rồi lan dần ra, làm biến đổi các phân tử gỗ, tạo nên nhiều màu sắc (đen, nâu, chàm, xám, … ), nhiều tính chất (cứng, mềm, dẻo, dòn …), nhiều mùi vị (đắng, cay, chua, ngọt, … ), nhiều hình dáng (tròn, xoắn, nhọn, dài, … ), ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây dó. Đó chính là Trầm Hương.

Đặc điểm nổi bật của Trầm Hương là tỏa mùi thơm đặc biệt lúc đốt hoặc chưa đốt. Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25%, Trầm Hương có thể chìm trong nước. Lọai Trầm Hương cao cấp có thể đạt hàm lượng dầu 60-80%. Căn cứ mức độ nhiễm dầu, màu sắc, hương vị, hình dáng, trọng lượng, xuất xứ … mà Trầm Hương có các tên gọi khác nhau như: Trầm mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bọ sánh, trầm bông, trầm da báo, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn, trầm rục, trầm sanh … Theo phẩm cấp, Trầm Hương được xếp thành 3 hạng và mỗi hạng chia thành nhiều lọai, như sau:

2. Phân loại Trầm Hương

* Hạng nhất là kỳ nam hay còn gọi là kỳ

Là loại trầm hương có phẩm cấp cao nhất, cho nhiều dầu, nhẹ, mềm, dẻo, nhuyễn, khi nếm có đủ vị chua, cay, đắng, ngọt; tỏa mùi thơm tự nhiên, khi đốt hương thơm đặc biệt, khói xanh, bay thẳng và dài lên không trung. Kỳ nam được chia thành 4 loại:

+ Bạch kỳ: Sắc trắng ngà, xám nhạt, vô cùng qúy hiếm, ít khi có, đắt giá nhất.

+ Thanh kỳ: Sắc xanh xám, ánh lục, rất qúy hiếm, đắt giá sau bạch kỳ.

+ Huỳnh kỳ: Sắc vàng sẩm, vàng nâu,  qúy hiếm và đắt giá sau thanh kỳ.

+ Hắc kỳ: Sắc đen chàm, hắc ín, qúy và đắt giá sau huỳnh kỳ.

 * Hạng hai là Trầm

Là lọai Trầm Hương ít dầu, nặng, vị  đắng, hầu hết khi đốt mới tỏa mùi thơm, khói màu trắng, bay quanh rồi tan ngay. Theo phẩm cấp, trầm được xếp thành 6 loại :

+ Loại 1, sắc sáp trắng, giá trị cao nhất trong 6 loại trầm;

+ Loại 2, sắc xanh đầu vịt , giá trị sau lọai 1;

+ Loại 3, sắc sáp xanh , gía trị sau lọai 2;

+ Loại 4, sắc sáp vàng, giá trị sau lọai 3;

+ Loại 5, sắc vằn lông hổ, giá trị sau lọai 4 ;

+ Loại 6, sắc vàng đốm dầu, giá trị thấp nhất trong 6 loại trầm.

Sách xưa chia trầm hương thành 5 loại: Hoàng lạp trầm, Hoàng trầm, Giác trầm, Tiến hương, Kê cốt hương, trong đó Hoàng lạp trầm là tốt nhất.

* Hạng ba là tốc

Phần lớn tốc có mức nhiễm dầu ít hơn trầm, chủ yếu là từ bên ngòai và dài theo thớ gỗ. Có khỏang vài chục lọai tốc, với các tên gọi như: Tốc kiến, tốc đá, tốc cá ngừ, tốc hương, tốc lọn, tốc dây, tốc đỉa… Tuy nhiên, có thể xếp các dạng tốc thành 4 nhóm như sau:

+ Tốc đỉa, là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu nhiều trong các thớ gỗ, dạng nhỏ, cở ngón tay, đầu đũa con hoặc như con đỉa.

+ Tốc dây, là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu xen, tạo nhiều vòng giữa các thớ gỗ, thường có dạng tròn, dài, dáng rễ cây.

+ Tốc hương, là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu dạng mảnh, mùi thơm nổi trội hơn các lọai tốc khác.

+ Tốc pi, là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu mỏng, bao quanh bên ngòai các thớ gỗ theo dạng hình tháp, hình ống lớn.

Trong 4 nhóm tốc thì tốc đỉa được đánh giá cao hơn về chất lượng. Tuy nhiên, việc xếp nhóm tốc không nhất thiết theo thứ bật phẩm cấp.

Hiện nay chưa có quy định chuẩn và thống nhất về tiêu chuẩn phân lọai, đánh giá phẩm cấp Trầm Hương. Theo TS Lê Công Kiệt, tiêu chuẩn đánh giá Trầm Hương thường đựa vào : Nguyên xứ, cường độ, loại hương, hình thù, kích cở, màu sắc, trọng lượng, tỷ trọng, độ tinh khiết và loài cây dó tạo ra trầm hương. Trong giao dịch mua bán, việc phân loại Trầm Hương phần lớn dựa vào cảm nhận, kinh nghiệm, đồng thuận, thông qua hành vi trực tiếp của con người như nhìn, sờ, gọt, bấm, đốt, nếm, ngửi…

NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG – HƯƠNG NHANG KHÔNG HOÁ CHẤT

Advertisements
28/02/2013 / Nhang Sạch Thiên Hương

THẮP NHANG BÀN THỜ GIA TIÊN SÁNG CHIỀU: NÉT ĐẶC SĂC CỦA VĂN HOÁ DÂN TỘC

bàn-thờ-gia-tiên

bàn-thờ-gia-tiên

Chào bạn,

Trong những ngày Tết cổ truyền Việt Nam, tôi đi thăm những người thân trong gia đình, anh em thân bằng quyến thuộc, thăm bạn bè và những người hàng xóm, tôi nhận thấy có một nét văn hoá rất đặc sắc của dân tộc ta. Đến nhà nào, trước tiên cũng phải đến bàn thờ gia tiên thắp 3 nén Hương, Nhang, đứng lặng im khấn vài vài giây như chào hỏi ra mắt tổ tiên gia chủ. Nó làm tôi nhớ đến những bài học Lễ Phép mà ông bà cha mẹ tôi đã từng dạy cho anh em tôi.

Ấn tượng nhất là những ngôi nhà xưa, cổ có ba gian trong đó gian chính là bàn thờ gia tiên. Tủ thờ thường được chọn là loại gỗ quý hiếm, cách bài trí trên bàn thờ nhìn vào rất thiêng liêng và kính trọng. Phía trước có bộ bàn ghế cao với 6 ghế để người lớn trong gia đình ngồi uống trà, trao đổi những việc quan trọng trong gia đình. Hương, Nhang được thắp ngày 2 cử sáng chiều với tấm lòng hiếu đạo, tôn kính.

Các gia đình của bạn bè trẻ tuổi như tôi thì trang trí khác hơn, vì họ còn trẻ nên cũng không bắt buộc phải thờ tổ tiên, có nhà thì mua tủ thờ, trang hoàn bài bản như các cụ, có nhà thì lập bàn thờ trên cao và được bắt vào tường. Trên bàn thờ thì luôn có đông bình, tây quả và lư hương đặt chính giữa. Họ cũng thắp Hương, nhang sáng chiều để tưởng nhớ đến người đã khuất và làm ấm áp không gian sinh sống với làn khói Nhang nhẹ nhàng, lan toả.

Thắp Nhang, Hương trên bàn thờ gia tiên mỗi ngày là nét đẹp của văn hoá dân tộc. Trước đây, tôi nghe nói người công giáo không thắp hương, nhang, tuy nhiên, bây giờ tôi thấy họ cũng thắp nhang, hương bình thường mỗi ngày nhưng không nhiều như người theo đạo Phật hoặc Đạo Khổng (thờ ông bà, cha mẹ, tổ tiên). Các tôn giáo khác nhau có những nghi thức thờ cúng khác nhau. Tuy nhiên, vẫn có một điểm chung là hướng về cội nguồn, tổ tiên…

Dù là ai thì chúng ta cũng có tổ tiên, ông bà cha mẹ, khi thắp nén Hương, Nhang trên bàn thờ đó là lúc chúng ta gửi gấm tình cảm, những chia sẻ, tâm sự, lời cầu nguyện  của mình đến với người đã khuất qua làn khói lung linh, huyền ảo để cầu mong an lành, hạnh phúc và sung túc. Làn khói Hương, Nhang còn làm ấp áp không gian gia đình, giúp ta thư giản, nhẹ nhàng với hương thơm thoang thoảng.

Trong xã hội hiện đại, chúng ta vẫn giữ nét đẹp của truyền thống, văn hoá dân tộc trong việc thờ cùng, thắp nhang, hương bàn thờ gia tiên như một sự nhắc nhớ ta luôn hướng về cội nguồn, hướng về quê hương, ông bà tổ tiên, thể hiện lòng hiếu thảo với tổ tiên qua nghĩa cử cao đẹp với tấm lòng tôn kính. Đó cũng là một hình ảnh giáo dục con em mình biết Lễ Phép, biết trân trọng tôn kính tổ tiên, hiếu thảo với ông bà cha mẹ hiện tiền và những người đã khuất. Vì những hình ảnh là lời giáo dục sâu sắc nhất, ấn tượng nhất cho con trẻ noi theo.

Nguyễn Trường Quang, giám đốc NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG

08/01/2013 / Nhang Sạch Thiên Hương

NHANG TRẦM ĐẶC BIỆT – MANG MAY MẮN VÀ TÀI LỘC ĐẾN GIA ĐÌNH BẠN TRONG NGÀY TẾT CỔ TRUYỀN

ban-tho-tet

Chào bạn!

Tôi cũng giống như nhiều người khác hiện tại sinh sống và làm việc tại TPHCM. Cứ mỗi dịp tết đến là mua sắm nhiều thứ nào bánh mức, rượu ngoại, các loại đặc sản… mang về nhà cha mẹ trưng bày trên bàn thờ gia tiên. Đó cũng là một nét đẹp của văn hóa dân tộc Việt.

Mấy ngày tết ở quê nhà thật ấm áp và tràn ngập tình yêu thương. Mấy anh thì ngồi lai rai vài chai bia, rượu, còn mấy chị thì chơi đánh bài tiến lên. Các cháu nhỏ tranh thủ chạy nhảy ngoài sân, chơi cò cò và đuổi bắt trồn tìm. Cả nhà ai cũng vui vẻ cười đừa thật hạnh phúc.

Phải nói rằng, cả năm trời làm việc quần quật, ba ngày tết được về quê, được xum họp gia đình, được đi chơi thăm dòng họ, người thân bạn bè cảm giác thích thú làm sao. Nó làm mình quên đi những lo toan hàng ngày, làm mình bỏ qua hết những căng thẳng trong cuộc sống. Ước gì được sống mãi cảm giác hạnh phúc đó trong đời.

Tôi nhớ nhất là quang cảnh những ngày gần tết, mẹ lo đi mua củ kiệu dưa muối để ở nhà cho các con ăn, rồi nấu măng ăn với bánh tráng, kho trứng với hột vịt cái nồi tổ chảng. Những thành viên khác trong gia đình thì đi mua hoa mai, hoa cúc, bông vạn thọ…, và nhiều loại trái cây, bánh mức… để trưng lên bàn thờ. Thật vui và bình an

Rồi đêm giao thừa cả nhà ngồi chơi đáng bài 3 lá đến lúc 12h00 khuya. Khoảng khắc giao thừa thât thiêng liêng. Ba thắp Nhang Sạch lên bàn thờ gia tiên, cúng vái và gửi lời cầu nguyện đến ông bà tổ tiên. Rồi cả nhà lì xì, mừng tuổi nhau, cùng nhau ăn chè đậu xanh, ăn dưa hấu lấy lộc đầu năm. Các cháu  được rất nhiều tiền lì xì.

Tuy nhiên, có một chi tiết nhỏ đã làm cho không khí tết không được vui trọn vẹn đó là khói hương, nhang hoá chất làm cay xè mắt mọi người, nước mắt chảy dàn dụa và bị ho sặc sụa.

Tin vui cho bạn là năm nay Công ty Nhang Sạch Thiên Hương tung ra sản phẩm độc đáo trong dịp tết này vừa giúp chúng ta không bị cay mắt vừa giúp cho bàn thờ gia tiên thêm phần tâm linh, trang trọng với lễ vật quý hơn vàng. Đó là sản phẩm NHANG TRẦM ĐẶC BIỆT nguyên chất 100%, được sản xuất bằng nguyên liệu Trầm tự nhiện loại đặc biệt.

Phải nói rằng đây là món quà xuân, quà tết có ý nghĩa nhất trong đêm giao thừa vì thực sự bạn có tiền cũng không biết tìm mua ở đâu để dâng lên cho tổ tiên mình.

Bạn hãy thể hiện tấm lòng thành của mình từ những điều đơn sơ, bình dị nhất nhưng làm cho cha mẹ và người thân mình vui nhất. Sản phẩm quý giá hơn vàng này vừa thể hiện tâm linh vừa mang may mắn, bình an vừa bảo vệ sức khoẻ gia đình bạn.

Mời bạn xem hình ảnh sản phẩm:

NHANG TRẦM ĐẶC BIỆT – NHANG KHÔNG HOÁ CHẤT

Mang xuân về và xua tan tà khí xung quanh bạn “

nhang-tram-dac-biet

Nguyễn Trường Quang, Giám đốc NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG

23/11/2012 / Nhang Sạch Thiên Hương

XÔNG NHANG TRẦM ĐẶC BIỆT TRONG LƯ HƯƠNG BẰNG GỔ : THỜI GIAN 4 TIẾNG ĐỒNG HỒ

Nguyễn Trường Quang, giám đốc NHANG SẠCH THIÊN HƯƠNG

15/11/2012 / Nhang Sạch Thiên Hương

NÉT ĐẸP VĂN HÓA THẮP HƯƠNG NHANG

1.Ý nghĩa cây nhang trong văn hoá:

Tục đốt nhang đã trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh của người Việt Nam, đặc biệt trong những ngày Tết. Vì ngày Tết có nhiều việc cúng: nào cúng đất trời, cúng tổ tiên ông bà, cúng ông Táo… Và cây nhang trở thành vật không thể thiếu trong những ngày này.

Người ta thắp hương ở Chùa, Đình, Đền, Phủ, Miếu, Tháp, Am… để cầu mong Thần Linh, Thánh Trời, Phật, Mẫu phù hộ độ trì và mang đến điều tốt lành. Khi thắp hương, người Việt tin rằng khói nhang là cầu nối tâm linh của người sống và người chết, của cuộc sống thực và cõi hư vô, của thế giới hữu hình và vô hình.

Trong các ngày Sóc, Vọng, cúng giỗ, đứng trước ban thờ, thắp nén hương thơm, nhìn làn khói tỏa, miệng “lầm rầm khái vái nhỏ to”, cảm thấy như có gì thần bí, màu nhiệm đang vây quanh mình. Dường như ông bà tổ tiên trên ban thờ đang dần hiển linh, dạy bảo, dặn dò và răn đe bên tai. Khi hương tắt bao giờ cũng là lúc “hóa vàng” tạ lễ và hạ mâm cơm cúng, thức ăn đựoc bày ra, con cháu “thụ lộc”.

Khi gia đình có người thân mất, việc thắp hương sẽ tạo nên không khí ấm cúng, xua đi cái lạnh lẽo của không khí tang ma và khí âm của thi xác người quá cố. Xem chi tiết…

09/11/2012 / Nhang Sạch Thiên Hương

TRUYỀN THUYẾT VỀ TẬP TỤC ĐỐT HƯƠNG, DÂNG HƯƠNG

Tục đốt nhang (hay còn gọi là thắp hương, dâng hương) đã có ở nước ta từ lâu đời. Nó đã trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Dù là ngày Tết, ngày giỗ chạp hay ngày thường, người ta đều đốt nhang.

1.Nguồn gốc cây hương, tục đốt hương:

Tương truyền, tục đốt hương có từ lâu đời, từ khi con người khám phá ra lửa, những loại cây bị cháy thường toả ra mùi hương, mỗi cây lại có một mùi hương khác nhau. Về sau con người biết sử dụng hương thơm của các loại cây để chữa bệnh, xua đuổi tà khí…đốt lên toả khói nghi ngút, làm ấm áp không gian.

Lại có ý kiến khác cho rằng nguồn gốc việc đốt hương có từ những quốc gia có nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Babylon…Thời đó, hương đốt được làm từ nhựa lấy từ thân của loài cây Boswellia mọc rất nhiều ở miền Nam Ả Rập và Somalia. Cùng với sự phát triển mậu dịch trao đổi, các nền văn minh Tây phương xa xưa cũng áp dụng sự đốt hương, và trong các triều đại Ai Cập như Sheba, Hadramaout và Qataban, đất nước này đã giàu phất lên từ việc xuất khẩu hương liệu.

Nghi thức đốt gỗ chiên đàn đã được thực hành tại Ấn Độ từ những thời rất xa xưa. Từ Ấn Độ, đã theo con đường lan truyền của Phật Giáo, tục đốt hương đã được hình thành tại khắp các xứ vùng Đông Nam Á.

Vân Ðài Loại Ngữ của Lê Quý Ðôn cho rằng thuở xa xưa, người Tàu lấy lửa đốt củi thui các con vật gọi là vật hy sinh, rồi sau thì bắt chước phong tục đốt hương từ Tây phương tức là Ấn Ðộ.

Còn theo Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, cây nhang có nguồn gốc từ Tây Vực, đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách. Khi xưa, tục Tàu tế tôn miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộn với mỡ mà đốt cho thơm, chưa có đốt hương.

Đến đời Vũ đế nhà Hán, vua sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây vực, thuộc Ấn Độ). Vua nước ấy đầu hàng, dâng một tượng thần bằng vàng cho vua Vũ đế đem về đặt trong cung Cam Toàn. Người nước Hồn Gia cũng tế thần ấy, không phải dùng đến trâu, bò mà chỉ đốt hương lễ bái mà thôi. Tục đốt hương bắt đầu từ đấy.

Từ Trung Hoa, tục đốt nhang (hay còn gọi là thắp hương, dâng hương) đã truyền sang nước ta từ lâu đời. Nó đã trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Dù là ngày Tết, ngày giỗ chạp hay ngày thường, người ta đều đốt nhang.

Cũng có thuyết cho rằng đất Việt đã du nhập trực tiếp đốt hương từ Ấn Ðộ, chứ không phải qua đường Trung Hoa. Thuyết này dựa trên việc Thứ sử Giao Châu là Trương Tân thường đốt hương ở Cát Lập tịnh xá để đọc đạo thư. Tục đốt nhang ở ta có lẽ bắt đầu từ đó. Rồi cùng với quá trình phát triển của đạo Phật, tập tục đốt nhang du nhập vào nước ta ngày càng phổ biến.

2.Các loại hương, nhang: 

Ban đầu, chất nhựa thơm và trầm hương được sử dụng ở Viễn Đông phần lớn đều nhập từ Ả Rập. Tuy nhiên, dần dần những nhà sản xuất nhang thơm, đã tạo ra một công thức bột thơm phổ biến bao gồm nhiều chất khác nhau như: bột gỗ chiên đàn, long diên hương, cây húng quế, benzoin, camphor, hoa lài, cỏ thơm ba lá, cây xạ hương, và cây hoắc hương để tạo ra một loại nhang thơm đặc biệt.

Nhang có nhiều loại, nhiều kiểu: nhang thường, nhang ướp hương, nhang tròn, nhang khoanh… tất cả đều có chung một công dụng: đốt lên cho ấm cửa ấm nhà, đốt lên bàn thờ tổ tiên ông bà, bàn thờ thần thánh… vào hai buổi sáng – chiều như gửi một lời chào đến các vị bề trên, nhằm báo cho các vị biết lúc nào chúng tôi cũng nhớ đến các vị.

Hương lộc là hương những người đi lễ đầu năm lấy ở các đình chùa về thắp tại bàn thờ tổ tiên hoặc bàn thờ thổ công ở nhà, thay vì hái lộc cành cây. Người ta tin rằng hương lộc của Thánh, Phật… mang lại sự no ấm, phát đạt.

Nói về công đoạn làm hương thì có 2 cách cơ bản: là nguyên liệu cùng với keo dính trộn đều rồi se dính vào que cốt (chân hương) và cách khác là nguyên liệu rải trên giấy rồi quấn quanh chân hương. Nhiều nén hương đựng trong một bao giấy gọi là Thẻ hương, nhiều thẻ gộp lại thành bó hương.

Ở Việt Nam, nguyên liệu làm làm hương ngoài tăm tre, bao giấy thì bột hương được tạo ra từ: đại hoàng, xuyên khung, mộc lan, cam thảo, đinh hương, nhựa cây trám, tế tân, độc hoạt…

Nghề làm hương vất vả, để có được nén hương thơm phải trải qua nhiều công đoạn và tất cả các thành viên trong gia đình đều phải làm việc cật lực từ việc đơn giản đến phức tạp.

Người già và trẻ em thường đảm nhiệm những việc nhẹ nhàng như chuốt tăm hương, phơi và thu lượm, đóng bao sản phẩm. Công đoạn khó khăn và phức tạp nhất là khâu pha trộn bột hương. Việc này phải do người có tay nghề, kỹ thuật và kinh nghiệm đảm nhiệm bởi nếu pha không đúng liều lượng, hương sẽ không thơm.

Có rất nhiều loại hương, nhang được bày bán trên thị trường. Tuy nhiên, có 2 loại chính: hương, nhang hóa chất và hương nhang không dùng hóa chất. Điều khác nhau cơ bản là hương, nhang không dùng hóa chất dùng nghiên liệu tự nhiên từ các cây gỗ quý sản xuất nên có màu và mùi thơm tự nhiên đặc trưng của cây gổ quý đó như trầm, quế, tùng… và được đựng trong các bao bì đẹp, sang trọng với xuất xứ nguồn gốc công ty và thương hiệu rõ ràng.

Nhang, hương hóa chất thường làm từ bột giấy, bột trấu, xác mía, lá gòn… rồi tẩm phẩm màu cùng hương hiệu tạo mùi để sản xuất hương, nhang có mùi thơm nồng nặc và gói trong các bao giấy kiến đơn sơ với giá cả rất rẻ không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Nguyễn Trường Quang,

Giám đốc công ty Nhang Sạch Thiên Hương